CHƯƠNG I

KHÁI NIỆM CHUNG VỀ VẬN TẢI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ

 

1.1.  VỊ TRÍ CỦA VẬN TẢI BẰNG XE Ô TÔ TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI, AN NINH QUỐC PHÒNG

1.1.1.  Phân loại các phương thức vận tải

Hệ thống giao thông vận tải nước ta cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng của xã hội với mức tăng trưởng nhanh. Phát triển vận tải theo hướng hiện đại, chất lượng cao với chi phí hợp lý, an toàn, hạn chế ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng.

Về tổng thể, hình thành một hệ thống vận tải hợp lý giữa các phương thức vận tải : Vận tải bằng xe ô tô; vận tải đường sắt; vận tải biển; vận tải thủy nội địa; vận tải hàng không và vận tải đường ống, vận tải cáp treo, vận tải băng truyền, v.v…

1.1.1.1.  Vận tải bằng xe ô tô

Vận tải đường bộ, trong đó chủ yếu là vận tải bằng xe ô tô, là hình thức vận tải phổ biến nhất, được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân ở tất cả các quốc gia. Vận tải bằng xe ô tô có một số ưu điểm cơ bản là: Tính cơ động cao, tốc độ vận chuyển nhanh, giá thành vận tải đối với khoảng cách ngắn hạ hơn so với vận tải đường sắt và vận tải đường thủy nội địa.

Vận tải bằng xe ô tô chủ yếu đảm nhận việc gom hàng, tạo chân hàng, vận tải hàng hóa, hành khách với cự ly ngắn và trung bình. Ngoài ra vận tải bằng xe ô tô còn đóng vai trò then chốt trong việc trung chuyển cho các ngành vận tải khác, vận tải đa phương thức và hoạt động Logistics.

1.1.1.2.  Vận tải đường sắt

Vận tải đường sắt là một trong những hình thức vận tải phổ biến nhất. Vận tải đường sắt chủ yếu đảm nhận vận tải hàng hóa, hành khách với cự ly trung bình và dài, khối lượng vận tải lớn, vận tải hành khách giữa các thành phố, khu đô thị và vận tải hành khách công cộng tại các thành phố lớn.

1.1.1.3.  Vận tải đường biển

Việt Nam có hơn 3.260 km bờ biển, có tiềm năng rất lớn, có điều kiện hết sức thuận lợi trong việc phát triển vận tải biển và các dịch vụ khác liên quan đến biển, đóng vai trò quan trọng nhất trong hoạt động Logistics, với hơn 90% hàng hóa xuất nhập khẩu.

Vận tải đường biển chủ yếu đảm nhận vận tải hàng hóa viễn dương, các tuyến ven biển, nhất là vận tải Bắc - Nam, vận tải than xuất, nhập khẩu phục vụ các nhà máy nhiệt điện, vận tải dầu thô phục vụ các nhà máy lọc hoá dầu và đặc biệt là hàng hóa công-ten-nơ.

Ngoài ra, vận tải đường biển Việt Nam cũng đang phát triển tuyến vận tải hành khách ven biển và hải đảo.


1.1.1.4.  Vận tải đường thủy nội địa

Việt Nam có bờ biển dài và có đến 2.360 sông, kênh (dài trên 10 km), có tổng chiều dài hơn

42.000 km và hàng nghìn km đường từ bờ biển ra đảo, tạo thành một hệ thống vận tải thủy nội địa thông thương giữa mọi vùng đất nước, góp phần tích cực vào việc vận chuyển hàng hóa và hành khách.

Vận tải thuỷ nội địa chủ yếu đảm nhận vận tải hàng rời khối lượng lớn (than, ximăng, phân bón, vật liệu xây dựng,v.v…) với chi phí thấp, hàng siêu trường, siêu trọng, vận tải chuyển tiếp phục vụ nông nghiệp và nông thôn. Vận tải thủy nội địa còn là một mắt xích lớn trong việc phát triển vận tải đa phương thức, hoạt động Logistics ở Việt Nam.

1.1.1.5.  Vận tải hàng không

Vận tải hàng không chủ yếu đảm nhận vận tải hành khách đường dài, quốc tế và hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Ở Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007) cho phép mọi thành phần kinh tế có thể tham gia vận tải hàng không, theo hướng thị trường mở, gắn liền với thị trường vận tải hàng không khu vực và thế giới, mở mới các tuyến bay quốc tế tầm trung và tầm xa, tăng tỷ lệ đảm nhận vận tải hành khách quốc tế đi/đến Việt Nam của các hãng hàng không trong nước, giúp hành khách có thể đưa ra lựa chọn thực sự, định hướng phát triển vận tải hàng không trở thành phương thức vận tải an toàn, phổ thông và thuận tiện.

1.1.1.6.  Vận tải đường ống, vận tải cáp treo, vận tải băng truyền

Vận tải đường ống, vận tải băng truyền và vận tải cáp treo là hình thức vận tải đặc biệt.

Vận tải đường ống dùng để vận chuyển hàng hóa chủ yếu là dầu mỏ, hơi đốt và nước sạch,v.v… Trong những năm gần đây, phương thức vận tải này phát triển rất nhanh. Tuy nhiên, vẫn tốn tại một số nhược điểm:

-  Tốc độ vận tải dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thấp, khoảng 3-6 km/h;

-  Việc xây dựng đường ống sẽ kém hiệu quả nếu không có khối lượng vận tải lớn, thời gian khai thác không lâu dài và không bảo đảm sự hoạt động liên tục của đường ống;

-  Chỉ thích hợp với một số loại hàng hóa.

Vận tải băng truyền dùng để vận chuyển hàng hóa chủ yếu là vật liệu xây dựng, quặng, có khối lượng vận tải lớn, quãng đường vận tải ngắn.

Vận tải cáp treo chủ yếu hiện nay dùng để vận chuyển hành khách, phục vụ du lịch. Thường xây dựng tại các nơi có địa hình khó khăn như: núi cao, eo biển…

1.1.2.  Vận tải đa phương thức

Vận tải đa phương thức là việc vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở hợp đống vận tải đa phương thức trong đó có sử dụng vận tải đường bộ.

Hoạt động vận tải đa phương thức ở Việt Nam bao gồm vận tải đa phương thức quốc tế và vận tải đa phương thức nội địa.

-  “Vận tải đa phương thức quốc tế” là vận tải đa phương thức từ nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam, đến một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại.


-  “Vận tải đa phương thức nội địa” là vận tải đa phương thức được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.


Hình1-1: Vận tải đa phương thức (Logistics)

1.1.3.  Hoạt động Logistics

.   Logistics là một hoạt động thực tiễn cần thiết nhằm thực hiện một hoặc nhiều công đoạn, bao gồm nhận hàng, vận tải, lưu kho, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc thu gom hàng hóa, thông quan nội địa, các dịch vụ logistics giá trị gia tăng và các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao. Hiểu theo cách đơn giản, Logistics là việc thực hiện và kiểm soát toàn bộ hàng hóa cùng những thông tin có liên quan từ nơi hình thành nên hàng hóa cho đến điểm tiêu thụ cuối cùng. Yêu cầu phải đáp ứng là : “Sản phẩm phải được cung cấp đúng hình thái, đúng thời gian và đúng địa điểm”.

1.1.4.  Vai trò của phương thức vận tải bằng xe ô tô

Vận tải bằng xe ô tô có chức năng vận tải hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, tiêu dùng và vận tải hành khách nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Nếu thiếu phương thức vận tải này thì bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng không thể thực hiện được, việc giao lưu hàng hóa giữa các khu vực, các vùng và sự đi lại của nhân dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, vận tải bằng xe ô tô luôn cần thiết với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, với việc lưu thông hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu đi lại của nhân dân. Vận tải bằng xe ô tô là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa thành phố với nông thôn, giữa miền xuôi với miền ngược. Ngoài ra, vận tải bằng xe ô tô còn làm nhiệm vụ chuyển tải giữa vận tải đường sắt, vận tải hàng không, vận tải đường biển, vận tải đường thủy nội địa đến các điểm sản xuất và tiêu dùng.


Vận tải bằng xe ô tô còn phục vụ đắc lực cho việc vận tải nhân lực, vật tư, thiết bị đến cứu trợ các vùng có thiên tai như hỏa hoạn, bão lũ, động đất…để phòng, chống hay khắc phục hậu quả khi có sự cố xẩy ra.

Vận tải bằng xe ô tô còn góp phần cơ động lực lượng vũ trang, khí tài chiến đấu và phục vụ hậu cần để trấn áp các vụ bạo loạn của kẻ thù hoặc hoạt động biệt kích thâm nhập qua biên giới, trên đất liền hay vùng bờ biển. Vận tải bằng xe ô tô góp phần phân bố lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.

Vì vậy, từ trước đến nay việc phát triển ngành vận tải bằng xe ô tô ở mỗi quốc gia đều là một nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế của đất nước, bảo đảm an ninh – quốc phòng và đòi hỏi phải phát triển trước một bước.

 


Rating
0 0

Hiện tại không có cảm nhận.

to be the first to leave a comment.